Finance

28 pages
161 views

Chiến lược hn vn

of 28
All materials on our website are shared by users. If you have any questions about copyright issues, please report us to resolve them. We are always happy to assist you.
Share
Description
Chiến lược hn vn
Transcript
    Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 13:8 2016/1/23 - Nguồn :    Nguồn: Thư viện Pháp luật   CHIẾN LƯỢC   TỔNG THỂ HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030   (Ban hành kèm theo Quyết định số 40/QĐ - TTg ngày 07 tháng 01 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ)   Phần I   TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ   Quá trình đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong ba thập kỷ qua đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước. Tuy nhiên, mức độ hội nhập của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực còn thấp, hiệu quả hội nhập chưa cao.   I. HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ   Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được thúc đẩy mạnh mẽ với nhiều hình thức, theo lộ trình từ thấp tới cao, hướng tới tiếp thu những nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế của nền kinh tế và thị trường toàn cầu. Việt Nam từng  bước mở cửa, gắn nền kinh tế và thị trường trong nước với nền kinh tế và thị trường khu vực, thế giới thông qua thiết lập các mối quan hệ song phương về thương mại, đầu tư, tài chính và tham gia vào các thể chế đa phương trong những lĩnh vực này. Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của tất cả các tổ chức quốc tế lớn; đã tham gia, ký kết, và đàm phán tổng cộng 15 hiệp định thương mại tự do (FTA). Xét về số lượng FTA, Việt Nam hiện ở tốp giữa so với các thành viên ASEAN khác.1 Trong những năm tới quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt trọng tâm vào việc thực hiện các FTA, trong đó có các FTA quan trọng với các đối tác chiến lược như Nhật Bản, EU và các FTA khu vực quan trọng như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Đối tác Toàn diện khu vực (RCEP). Về mức độ hội nhập, Việt Nam hội nhập sâu rộng nhất là trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế ASEAN.      Hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế của đất nước, giúp mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa và sản phẩm của Việt  Nam; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm; tạo động lực xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, v.v... Đồng thời, hội nhập kinh tế quốc tế giúp nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam thông qua sự tham gia bình đẳng vào các cơ chế, diễn đàn kinh tế khu vực và quốc tế như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bước đầu góp phần xây dựng luật lệ, chuẩn mực chung,   và vận dụng cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO để bảo vệ lợi ích doanh nghiệp và nâng cao vị thế đàm phán của Việt Nam.   Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế vẫn còn nhiều tồn tại, nhất là hiệu quả hội nhập còn thấp; ký kết nhiều cam kết quốc tế nhưng   quá trình đổi mới ở trong nước, nhất là đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, quá trình chuẩn bị của các tổ chức và cá nhân, nhất là của doanh nghiệp trong nước không theo kịp với lộ trình và mức độ cam kết quốc tế; chưa tận dụng triệt để và có hiệu quả các luật lệ, chuẩn mực quốc tế để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân Việt Nam trong quá trình hội nhập; chưa xây dựng được các chiến lược đối phó với rủi ro và các cú sốc khi hội nhập sâu hơn; chưa thực hiện hiệu quả chính sách thông tin và hỗ trợ doanh nghiệp nhằm tận dụng các cơ hội và đối phó với thách thức do quá trình hội nhập mang lại; chưa chú trọng đúng mức việc thúc đẩy hội nhập trong nước, gia tăng liên kết vùng, miền, nhằm huy động tối đa nguồn lực và lợi thế từng vùng, miền, nhằm mục tiêu xây dựng nền tảng vững chắc cho hội nhập bên ngoài; định hướng “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”, “đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại” chưa được quán triệt sâu sắc, tình trạng phụ thuộc vào một số ngành hàng, một số thị trường, tỷ trọng của khu vực kinh tế có đầu tư nước ngoài ngày càng tăng nhanh, v.v...   II. HỘI NHẬP CHÍNH TRỊ, QUỐC PHÒNG, AN NINH   Hội nhập về chính trị, quốc phòng, an ninh nhìn chung được triển khai một cách thận trọng về bước đi và độ mở trong từng lĩnh vực. Về chính trị, đến nay, Việt  Nam là thành viên của hầu hết các tổ chức quốc tế và khu vực; có quan hệ ngoại giao với 185 nước, quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 14 nước, đối tác toàn diện với 10 nước. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, Việt Nam đã mở rộng và củng cố quan hệ với 80 nước và nhiều tổ chức quốc tế, từng bước nâng cao hiệu quả hợp tác với các nước láng giềng và các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, và Nhật Bản.   Hợp tác đa phương   được mở rộng từng bước. Việt Nam đã tham gia một cách chủ động, tích cực và có trách nhiệm tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là các cơ chế cấp khu vực như Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF); Đối thoại  Shangri- La, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị những người đứng đầu cơ quan an ninh các nước ASEAN (MACOSA), Tổ chức Hình sự Quốc tế (INTERPOL), Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC); Hiệp hội Cảnh sát các quốc gia Đông Nam Á (ASEANPOL), v.v... và tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh trên phạm vi toàn cầu, bước đầu tham gia có hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.   Hội nhập chính trị, quốc phòng, an ninh đã có tác động tích   cực tới hội nhập kinh tế quốc tế và hội nhập trong các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, mức độ hội nhập trong các lĩnh vực này vẫn còn thấp cả về chiều rộng và chiều sâu. Về song  phương, mức độ đan xen lợi ích giữa Việt Nam và các đối tác, kể cả các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, còn thấp; nhiều mặt quan hệ còn chưa tương xứng với khuôn khổ hợp tác; vẫn còn khoảng cách giữa cam kết chính trị và thực tế triển khai; hợp tác với các nước trên một số lĩnh vực chưa thực sự đi vào chiều sâu; hợp tác về an ninh,   tình báo và cảnh sát với một số nước vẫn còn hạn chế. Tại các cơ chế đa phương, Việt Nam bước đầu đã tham gia tích cực, có các sáng kiến, tuy nhiên, so với các nước trong khu vực mức độ đóng góp của Việt Nam còn thấp. Bên cạnh đó, ta chưa khai thác hiệu quả thế mạnh của hội nhập trong các lĩnh vực này như là một phương thức mới để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng như hỗ trợ cho hội nhập kinh tế quốc tế và hội nhập trong các lĩnh vực khác.   III. HỘI NHẬP VĂN HÓA, XÃ HỘI, DÂN TỘC, GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO, KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ CÁC LĨNH VỰC KHÁC   Hội nhập về văn hóa, lao động, an sinh xã hội, y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ,... ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, đa dạng về hình thức, phương thức, đối tác và có nhiều chuyển biến về chất lượng. Trên bình diện song phương, Việt Nam tham gia ký kết nhiều thỏa thuận, hiệp định hợp tác dựa trên một số chuẩn mực chung như các thỏa thuận bảo tồn, thúc đẩy các giá trị văn hóa - nghệ   thuật; các điều ước, thỏa thuận về lao động, tài nguyên và môi trường, và nâng cao năng lực của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học, công nghệ.... về đa phương, Việt Nam đóng góp tích cực vào việc xây dựng Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN, đẩy mạnh hội nhập trên tất cả các lĩnh vực của Cộng đồng. Đồng thời, Việt Nam tham gia sâu rộng vào các thể chế, diễn đàn đa phương cấp khu vực và toàn cầu, trước hết là các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc như Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO); Tổ chức Y tế Thế giới (WHO); Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)... Hội nhập theo chiều sâu trong các lĩnh vực này chú trọng việc áp dụng các tiêu chí, tiêu chuẩn khu vực và quốc tế phù hợp với các cam kết Việt Nam đã đưa ra nhằm bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, luật và các quy định của từng  ngành, lĩnh vực; đồng thời tự nguyện áp dụng một cách có chọn lọc, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam các tiêu chí, tiêu chuẩn, chuẩn mực khu vực và quốc tế trong việc xây dựng khung tiêu chí, tiêu chuẩn, chuẩn mực của Việt Nam trong các ngành, lĩnh vực; từng bước hài hòa hóa các tiêu chí, tiêu chuẩn, chuẩn mực Việt Nam với các tiêu chí, tiêu chuẩn và chuẩn mực quốc tế.   Quá trình hội nhập về văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ,... thời gian qua đã đạt những thành tựu quan trọng; đồng thời, tiếp tục thuận lợi hóa và mở ra các cơ hội hợp tác mới cho các ngành của ta trong các lĩnh vực này. Hội nhập về văn hóa, xã hội giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội; góp phần hoàn thiện thể chế, tiếp cận các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế và  phát triển thị trường lao động, phát triển hệ thống an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo và thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Hội nhập về giáo dục, đào tạo ngày càng được đẩy mạnh: Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức giáo dục quốc tế; nhiều mô hình hợp tác giáo dục với các nước phát triển được mở rộng, đặc biệt dưới hình thức các chương trình liên kết đào tạo, xây dựng các trường đại học chất lượng cao tại Việt Nam, tiếp thu các chương trình tiên tiến.... Nhìn chung, hội nhập về giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ đóng vai trò quan trọng giúp phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao, và góp phần xây dựng nền khoa học, hệ thống giáo dục và y tế quốc gia ngày càng tiên tiến, hiện đại, tiến tới thu hẹp khoảng cách phát triển với khu vực và thế giới trong các ngành, lĩnh vực này.   Hội nhập trong các lĩnh vực văn hóa, lao động, an sinh, xã hội, y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ...thời gian qua đã tạo được tác động tích cực tới hội nhập trong các lĩnh vực khác, nhất là hội nhập kinh tế. Tuy nhiên, so với hội nhập kinh tế và hội nhập trong   lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, hội nhập trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, khoa học, công nghệ... rộng lớn hơn, các hoạt động tự nguyện hội nhập thông qua việc chủ động áp dụng các tiêu chí, tiêu chuẩn quốc tế hoặc hài hòa hóa các tiêu chí, tiêu chuẩn Việt Nam với các tiêu chí, tiêu chuẩn quốc tế có khối lượng rất lớn; mức độ tham gia và thực hiện các cam kết, tiêu chuẩn quốc tế mặc dù gia tăng, nhưng về tổng thể còn hạn chế, chưa đồng bộ; còn nhiều vấn đề phức tạp, nhạy cảm chưa   được nghiên cứu và triển khai kịp thời. Bên cạnh đó, quá trình hội nhập trong các lĩnh vực này thời gian qua được đẩy mạnh theo lộ trình phát triển của từng ngành, lĩnh vực nên chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp do thiếu sự gắn kết, gây chồng chéo, lãng    phí nguồn lực. So với các nước trong khu vực, mức độ công nhận của quốc tế về chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng đào tạo, bằng cấp, các sản phẩm khoa học, công nghệ, chất lượng dịch vụ của Việt Nam còn thấp; số lượng sáng chế được đăng ký bảo hộ ở nước   ngoài; các sản phẩm, dịch vụ có thương hiệu quốc tế còn khiêm tốn...   Phần II   BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC      I. BỐI CẢNH QUỐC TẾ   Hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế nổi trội trong quan hệ quốc tế. Từ nay đến năm 2030, cục diện đa cực định hình rõ nét hơn do thay đổi nhanh chóng trong tương quan sức mạnh giữa các quốc gia. Mỹ vẫn là siêu cường, tuy nhiên Trung Quốc tiếp tục phát triển và có tiếng nói ngày càng quan trọng trong nhiều vấn đề khu vực và thế giới. Ấn Độ và một số quốc gia ở các khu vực khác tiếp tục vươn lên trở thành những nền kinh tế có quy mô khá lớn, gia tăng ảnh hưởng tại khu vực và trong tương quan với các nước lớn khác. Quá trình tiến tới trật tự đa cực có thể tiềm ẩn những căng thẳng, thậm chí xung đột, kể cả giữa các nước lớn.  Châu Á- Thái Bình Dương tiếp tục là trung tâm kinh tế phát triển năng động và trở thành trung tâm quyền lực mới của thế giới. Hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực căn bản được duy trì song cạnh tranh giữa các nước lớn, chạy đua hiện đại   hóa vũ trang, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo diễn biến phức tạp. Kiến trúc an ninh- chính trị khu vực tiếp tục vận động và đang định hình rõ nét hơn. ASEAN trở thành Cộng đồng, tiếp tục đẩy mạnh liên kết khu vực, kiên trì nỗ lực giữ vai trò trung tâm tại các cơ chế đa phương, điều hòa quan hệ giữa các nước lớn. Tuy nhiên, ASEAN đứng trước nhiều thách thức phức tạp hơn từ trong nội  bộ một số nước, giữa các nước và từ sự cạnh tranh giữa các nước lớn.   Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục quá trình tái cơ cấu;    phục hồi và tăng trưởng trở lại. Theo dự báo, tăng trưởng trung bình của kinh tế thế giới từ nay đến 2050 là 3%/năm; quy mô nền kinh tế thế giới sẽ gấp đôi vào năm 2037.2 Tăng trưởng kinh tế toàn cầu được thúc đẩy bởi tăng trưởng dân số, tiến bộ công nghệ, tự do hóa thương mại giữa các nước và quá trình đô thị hóa. Tương quan sức mạnh kinh tế tiếp tục thay đổi. Nhiều khả năng kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trong thập kỷ tới bất chấp dự báo tăng trưởng giảm; Ấn Độ có tiềm năng vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tính theo sức mua vào năm 2050; Việt  Nam và Ni-giê-ri- a có thể trở thành các nền kinh tế lớn phát triển nhanh trong giai đoạn từ nay đến 2050.3   Cạnh tranh kinh tế ngày càng phức tạp. Các nước lớn cạnh tranh nhằm tập hợp lực lượng ngày càng quyết liệt thông qua đẩy mạnh các sáng kiến liên kết kinh tế. Một số nền kinh tế ở các khu vực khác đang nổi lên với nhiều thế mạnh sẽ cạnh tranh với các nền kinh tế châu Á trong tương lai. Trong thập kỷ tới, các nền kinh tế tiếp tục đẩy mạnh tái cơ    cấu, chuyển đổi chiến lược và mô hình tăng trưởng, thúc đẩy xu thế thay đổi tư duy kinh tế và phát triển. Nhiều hình thái kinh tế mới đang được định hình như kinh tế mạng, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn; các chuỗi giá trị toàn cầu, chuỗi cung ứng toàn   cầu mở rộng nhanh chóng. Quá trình cải tổ các hệ thống quản trị kinh tế toàn cầu như WTO, Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) diễn ra chậm chạp; những thay đổi
We Need Your Support
Thank you for visiting our website and your interest in our free products and services. We are nonprofit website to share and download documents. To the running of this website, we need your help to support us.

Thanks to everyone for your continued support.

No, Thanks